BSR – Trụ cột ngành năng lượng Việt Nam

0
34

PHÂN TÍCH DAONH NGHIỆP BSR 

  1. KẾT QUẢ KINH DOANH

Kết quả, kết thúc quý II, BSR ghi nhận lợi nhuận sau thuế 9.909 tỷ đồng, gấp 5,9 lần so với cùng kỳ năm trước. Đây cũng là mức lãi kỷ lục trong lịch sử hoạt động của đơn vị này. Lợi nhuận sau thuế cổ đông công ty mẹ đạt 9.926 tỷ đồng, gấp 5,8 lần quý II/2021, EPS cải thiện từ 544 đồng lên 3.302 đồng.

Lũy kế 6 tháng đầu năm 2022, BSR đạt 87.174 tỷ đồng doanh thu, lợi nhuận sau thuế đạt 12.251 tỷ đồng, gấp 3,43 lần so với cùng kỳ. Sản xuất và kinh doanh khởi sắc, lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh của công ty lên tới 11.919 tỷ đồng.

2. TRIỂN VỌNG ĐẦU TƯ

Là nhà máy lọc dầu  hàng đầu Việt Nam. BSR là nhà máy lọc dầu (NMLD) đầu tiên của Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nhiên liệu cho đất nước. Hiện tại, sản phẩm đầu ra của BSR chủ yếu là các sản phẩm xăng dầu tinh chế (bao gồm xăng, dầu diesel, dầu nhiên liệu và LPG), chiếm 96-97% tổng sản lượng sản xuất và đóng góp 95% tổng doanh thu của BSR.

Hình 1: BSR nằm ở hạ nguồn của chuỗi dầu khí

Đối với HĐKD của BSR, dầu diesel, xăng RON95 (Mogas 95) và RON92 (Mogas 92) là ba sản phẩm chính của BSR, ước tính đáp ứng khoảng 35% tổng nhu cầu trong nước. Trong 6T22, 3 sản phẩm này lần lượt chiếm 83% và 88% tổng doanh thu và lợi nhuận gộp của BSR, cải thiện đáng kể từ 81% và 52% vào năm 2021. Kết quả ấn tượng này đến từ sự gia tăng mạnh của crack spread các sản phẩm lọc dầu trên toàn cầu sau khi cuộc khủng hoảng Nga – Ukraine xảy ra.

NMLD với hiệu suất hoạt động cao, đóng vai trò quan trọng trong ngành năng lượng Việt Nam. NMLD Dung Quất (do BSR quản lý) với tổng vốn đầu tư 3 tỷ USD đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nhiên liệu cho cả nước kể từ khi đi vào hoạt động, đáp ứng ~35% tổng nhu cầu nội địa. Trái ngược với nhà máy lọc dầu Nghi Sơn, BSR vẫn duy trì công suất vận hành cao, lên tới 105-108% trong nhiều năm, cho thấy khả năng sinh lời cao, ngoại trừ năm 2020 do dịch Covid-19 bùng phát và giá dầu giảm mạnh. . Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đánh giá cao đội ngũ kỹ sư dồi dào kinh nghiệm của BSR khi họ không chỉ áp dụng nhiều giải pháp khoa học để tăng hiệu quả vận hành NMLD Dung Quất (trong đó, chuỗi giải pháp liên quan đến tối ưu hóa quy trình sản xuất của NMLD giai đoạn 2015-19 mang lại hiệu quả kinh tế trên 4.270 tỷ đồng tính đến cuối năm 2019), mà còn tham gia hỗ trợ vận hành NMLD Nghi Sơn.

Sản lượng sản xuất của BSR luôn được tiêu thụ hết, chiếm khoảng 35% tổng nhu cầu nội địa. Hiện tại, nhu cầu xăng dầu trong nước khoảng 18 triệu m3 hàng năm, và nguồn cung trong nước đến từ BSR và NMLD Nghi Sơn (NSR) đáp ứng ~75% tổng nhu cầu. Tỷ trọng nguồn nhập khẩu liên tục giảm kể từ năm 2017, trước khi đảo ngược xu hướng này trong 6 tháng đầu năm 2022 do NMLD Nghi Sơn hoạt động dưới công suất do các vấn đề khó khăn tài chính. Do đó, nhờ chính sách ưu tiên các nguồn trong nước, chúng tôi cho rằng không có rủi ro cạnh tranh đáng kể đối với việc tiêu thụ sản phẩm của BSR trong vài năm tới do nguồn cung trong nước hiện vẫn chưa đáp ứng được hết nhu cầu xăng dầu nội địa.

Hình 4:Tỷ trọng cơ cấu nguồn cung xăng dầu tại Việt Nam

Hưởng lợi từ mặt bằng crack spread cao hơn do cuộc khủng hoảng Nga – Ukraine và nhu cầu tiêu thụ phục hồi. KQKD của BSR có mối tương quan cao với crack spread và giá dầu. Dầu thô chiếm khoảng 93% giá vốn hàng bán (GVHB) của công ty. Trong khi đó, BSR thường duy trì lượng dầu thô tồn kho tương đương bình quân 30 ngày sản xuất để đảm bảo NMLD hoạt động liên tục. Do đó, biến động giá dầu thô tác động mạnh đến KQKD của BSR vì công ty thường nhập nguyên liệu đầu vào căn cứ theo giá dầu thế giới.

Crack spread các sản phẩm lọc dầu dự kiến sẽ duy trì ở mức cao, là tín hiệu tốt cho các NMLD trong một vài năm tới. Trong 6T22, crack spread các sản phẩm lọc dầu, đặc biệt là crack spread dầu diesel đã tăng rất mạnh trên toàn cầu kể từ khi Nga tấn công Ukraine vào tháng 2 do: (1) lo ngại về sự thiếu hụt nguồn cung ở châu Âu khi người mua tránh nguồn cung đến từ Nga theo sau các lệnh trừng phạt, (2) việc các NMLD ngừng hoạt động ở Mỹ và châu Âu, và hoạt động với công suất thấp tại Trung Quốc, và (3) sự gia tăng hoạt động vận tải đường bộ, kéo theo nhu cầu nhiên liệu gia tăng.

Chờ đợi dự án nâng cấp và mở rộng được phê duyệt làm động lực tăng trưởng trong dài hạn.

Trong năm 2022, BSR đã trình đề xuất cuối cùng cho dự án mở rộng NMLD Dung Quất lên Tập đoàn dầu khí Việt Nam (PVN) và chờ sự phê duyệt của Chính phủ. Theo đề xuất hiện tại, công suất NMLD sẽ được tăng thêm 17% lên 7,6 triệu tấn/năm. Chúng tôi tin rằng đây sẽ là cơ hội cho BSR tiếp cận nhiều loại dầu thô có hàm lượng lưu huỳnh cao hơn và giá cả cạnh tranh hơn với nguồn cung dồi dào trên thế giới, đặc biệt là trong bối cảnh sản lượng dầu trong nước đã giảm trong nhiều năm, , BSR có thể chưng cất các loại dầu thô chua hơn và cung cấp các sản phẩm có chất lượng cao (tiêu chuẩn Euro V). Chúng tôi hy vọng BSR sẽ có thẻ khởi động dự án mở rộng và nâng cấp vào cuối năm 2023, và đưa vào vận hành thương mại vào đầu năm 2027.

Để có thể phát triển lâu dài và khai thác được thị trường với nhu cầu về xăng dầu đầy tiềm năng như Việt Nam thì BSR chọn cách NMLD tiếp tục hoạt động và sẽ dần dần chuyển sang lĩnh vực hóa dầu và các sản phẩm có giá trị gia tăng cao như LPG, JetA1.

Gần đây, liên quan đến dự án này, Bộ Công Thương vừa lưu ý đến một vài vấn đề chính, bao gồm: (1) phương án huy động vốn, và (2) khả năng nhập khẩu dầu thô khai thác từ Nga (dầu thô EPSO).

Tình hình tài chính vững mạnh sẽ hỗ trợ cho việc triển khai dự án nâng cấp mở rộng NMLD.

Sau khi giảm mạnh nợ vay trong giai đoạn 2015-17, chúng tôi nhận thấy rằng tỷ suất sinh lời của BSR có xu hướng biến động cùng chiều với giá dầu do chi phí tài chính không còn ảnh hưởng đáng kể đến KQKD của công ty. Chúng tôi kỳ vọng hệ số ROE của BSR sẽ tăng lên mức cao kỷ lục trong một năm 2022 chưa từng có tiền lệ (đối với thị trường dầu mỏ), sau đó giảm xuống khoảng 18% trong giai đoạn 2023-24.

Qua đó, chúng tôi tin rằng bức tranh tài chính lành mạnh hiện tại sẽ là bệ đỡ để BSR thực hiện dự án nâng cấp và mở rộng NMLD Dung Quất với vốn đầu tư dự kiến là 1,26 tỷ USD. Tỷ lệ D/E có thể tăng trở lại từ năm 2023 do công ty tăng nợ vay để tài trợ cho các dự án nâng cấp và mở rộng. Tuy nhiên, tình hình tài chính của BSR vẫn sẽ vững chắc trong vài năm tới nhờ triển vọng kinh doanh khả quan.

Đáng chú ý, môi trường lãi suất cao trong thời gian gần đây có thể mang lại lợi ích ngắn hạn cho BSR do doanh nghiệp đang sở hữu lượng tiền mặt dồi dào (với tiền mặt ròng là 21.597 tỷ đồng vào cuối Q2/22). Điều này sẽ giúp củng cố hiệu quả hoạt động của BSR trước khi công ty bước vào giai đoạn đầu tư.

Tiềm năng tăng giá:

  • Crack spread các sản phẩm lọc dầu toàn cầu tăng mạnh hơn dự kiến do các lệnh trừng phạt gia tăng đối với Nga và các biện pháp phong tỏa nghiêm ngặt ở Trung Quốc có thể cản trở hoạt động của các nhà máy lọc dầu Trung Quốc.
  • Giá dầu cao hơn dự kiến có thể làm gia tăng giá trị hàng tồn kho cho BSR.
  • Việc niêm yết trên sàn chứng khoán chính thức mang đến tiềm năng tăng giá cho BSR. Công ty đặt mục tiêu niêm yết trên sàn HOSE trong năm 2023.

3. RỦI RO:

  • Giá dầu giảm có thể ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của BSR do công ty không sử dụng bất kỳ biện pháp phòng ngừa rủi ro nào cho biến động giá nguyên liệu đầu vào và crack spread.
  • Sản lượng tiêu thụ thấp hơn dự kiến do giá nhiên liệu cao.
  • Chất lượng sản phẩm thấp (Euro II, Euro III) sẽ là rủi ro giảm giá đối với BSR nếu cơ quan chức năng áp dụng tiêu chuẩn nhiên liệu cao cho thị trường nội địa để đáp ứng các mục tiêu về môi trường

Phân tích kỹ thuật: giá đang có tín hiệu tạo đáy trước thị trường chung, vol bán không quá lớn, MACD chạm nhau cho tín hiệu đảo chiều, RSI xu hướng phân kỳ trở lại cho tín hiệu tích cực trong ngắn hạn.

 

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here